|
Hàn Mặc Tử có tài rất sớm. Tản Đà đã định khen thơ anh trên báo nhưng rồi tiên sinh qua đời. Làm một bài như bài Cửa sổ đêm khuya đọc lui, đọc ngược sáu cách, Tử rất giỏi:
Hoa cười nguyệt rọi cửa lồng gương
Lạ cảnh buồn thêm nợ vấn vương
Tha thướt liễu in hồ gợn bóng
Hững hờ mai thoáng gió đưa hương
Xa người nhớ cảnh tình lai láng
Vắng bạn ngâm thơ rượu bẽ bàng
Qua lại yến ngàn dâu ủ lít
Họa đàn sẵn có dế bên tường.
Đọc xuôi, đọc ngược, bỏ hai chữ đầu đọc xuôi, bỏ hai chữ cuối đọc xuôi, bỏ hai chữ đầu đọc ngược, bỏ hai chữ cuối đọc ngược. Tử làm bài ấy lúc 17,18 tuổi, cũng là một cách xem thường tài vua Tự Đức “chả mấy giỏi” hơn mình. Sau này, có lúc Tử tự xem mình là “vua nhà Nguyễn bay trên mây” (Nguyên TrọngTrí là tên anh), cái mầm mống phạm thượng biết đâu không bắt đầu từ lúc làm thơ thuận-nghịch-độc ấy?
Tử có rất sớm, trong khuôn khổ gò bó trói với bỏ rọ của thơ Đường luật mà có, cái khả năng thượng-thanh-khí-hóa (tên một tập thơ của Anh về sau), tâm tưởng tâm hồn hóa:
Tương tu mộng thấy năm canh mộng
Luyến ái trời vương bốn phía trời.
Cái khả năng thế-tục-hóa, da-thịt-hóa:
Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn.
Khả năng kỳ ảo, ma-quái-hóa cũng xuất hiện rồi:
Mở cứa nhìn trăng, trăng tái mặt
Khép phòng đốt nến, nến rơi châu.
Đấy không phải là thủ thuật, kỹ thuật, những cách bên ngoài. Hoặc, nếu là thế thì cũng nhờ có một cái cốt thế nào đó, một cấu trúc tâm hồn thế nào đó ở bên trong. Hàn Mặc Tử – lúc ấy còn lấy tên Phong Trần, tên Lệ Thanh – đi về, qua lại giữa trời và đất, cảnh và người, thực và hư… rất thoải mái. Hoi văn lúc thì thu cả cảnh vật vào trong dúm chữ “Ngàn trùng bóng liễu trông xanh ngắt”, lúc thì văn chương chữ nghĩa tuột ra khỏi lòng như một tiếng kêu, một ngọn gió, một nhát dao: “Vội vàng cánh nhạn bay đi trớt”. Năng lực đàn hồi ấy cũng đã khá rõ ràng. Nhưng phải có cơn bão máu, trận hồng thủy tai ương, những động đất tâm hồn, những phún lửa tình yêu kinh khủng về sau, thì các khả năng kia mới lên cái thế bình phương, rồi lập phương như ta thấy.
Từ năm 1936 đến 1940, nghĩa là sau khi rời Sài Gòn, ra tập GÁI QUÊ, về Quy Nhơn thọ bệnh, cho đến lúc vào Quy Hòa và mất, anh đã làm quá trình một thế kỷ về thơ (1935-1939 cũng là thời kỳ tôi học ở Quy Nhơn, giới thiệu dìu dắt tôi vào thơ là công anh lúc đó). Từ một nhà thơ biền ngẫu theo lối cổ phương Đông, anh đã hiện đại như những nhà thơ hiện đại nhất châu Âu. (Chỉ so với André Breton, ông tổ siêu thực không thôi cũng đủ thấy rõ). Hơn nữa, thiên hạ hiện đại bằng óc, bằng lòi, còn anh thì bằng máu:
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra.
Đọc thêm tại: http://nhavanvacuocsong.blogspot.com/2015/07/vi-van-anh-ma-tim-hieu-than-oi-anh-han.html
Từ khóa tìm kiếm nhiều: van hoc lang man
