Cái nhìn, cách viết tinh tế của Tố Hữu

     Nhờ ánh sáng mặt trời chói qua tim, hay tim hóa mặt trời ấy, nhà thơ rất nhạc ấy lại có con mắt họa sĩ, con mắt Voyant ở đâu cũng thấy sắc màu, hóa thân cho cái mình nhìn:

Vườn hồng ngớt gió mưa qua
Cờ hoa đỏ nắng, mái nhà vàng sao…
… Hố bom đỏ mắt, trắng đèo bông lau
Cây khô chết chẳng nghiêng đầu
Nghìn tay than cháy rạch màu trời xanh…
… Đầu non cỏ lục mặt trời vừa lên
Da trời xanh ngắt thần tiên
Đỏ au đường lớn mang tên Bác Hồ
Trường Sơn mây núi lô xô
Quân đi sóng lượn nhấp nhô bụi hồng

Cái nhìn, cách viết tinh tế của Tố Hữu

      Có lần tôi hỏi Tố Hữu là anh có cố ý cho câu Mường Thanh Hồng Cúm, Him Lam có màu thanh và hồng không? Anh ngớ ra! Cố nhiên là Tố Hữu không cố ý, nếu cố ý thì còn gì là Tố Hữu. Có thể ‘Tố Hữu ý thức” chỉ nghĩ ra màu trắng, màu vàng trong:
                                      Hoa mơ lại trắng, đồi cam lại vàng.
      Nhưng một Tố Hữu khác, tiềm thức đã mù mờ, thay anh chọn các từ có màu thanh, hồng, lam đó. Trong thơ ăn nhau là ai có con người thứ hai, cái hậu phương đầy tiềm lực dự trữ bí ẩn này. Để kiểm tra lại bài toán, ta xem Tố Hữu yêu ngày như thế, có tả đêm không? Có. Nhưng cũng như không, bao giờ đêm của anh cũng kèm theo một cái gì phủ định nó:

Những đêm hè
Tiếng chổi tre
Xao xác

Thế là đêm hóa ngày rồi. Đêm anh thường xuyên có lửa:

êm nay trên sàn
Bập bùng ngọn lửa
Hoặc:
Má già trong túp lều tranh
Ngồi bên bếp lứa đun cành củi khô

Cho đến “Bà bú không ngủ, bà nằm” thì bà cũng có “ổ chiếu lửa rơm” và “con gà gáy sáng đầu thôn” chờ đấy.
Và khi không đèn, không lửa gì:

Xe đi trong đêm tối
Có mắt ta làm đèn

     Ở hai đoạn thơ đầu ta trích để mổ xẻ, đều thấy Tố Hữu nhắc đến chim (rộn tiếng chim, con chim nào nhảy nhót trong tóc). Chùn của Tố Hữu có nhiều, ríu rít, rúc rích, hót, gáy, nào là sẻ, bồ câu, tu hú, gà, chiền chiên, sếu, giang, cà lơi, cò, nhất là cò, những bóng cò bay sớm sớm chiều chiều, nhưng toàn là chim của ánh sáng mặt trời. Cú, vạc ban đêm hay con quạ có màu đêm vắng lắm. Tố Hữu không quan tâm lắm về phía bóng tối, siêu hình mà anh buộc lòng anh với mọi người chớ không phải với “phía bên kia” của họ. Làm cách mạng, giáp trận, đương đầu cùng cái chết, có lần anh đã tả:

Liệm thân tàn bằng một mảnh chiếu con
Rồi chôn xương rục thối dưới chân cồn
Hay phơi xác cho một bầy quạ rỉa

Con quạ này bay qua không trở lại. vấn đề siêu hình tì trên cồn, anh lôi nó xuống ruộng cày. Và anh không thối rữa chết rữa mà ngủ ngon lành:

Vui vẻ chết như cày xong thửa ruộn
Lòng khỏe nhẹ anh dân quê sung sướng
Ngả mình trên liếp cỏ ngủ ngon lành

Lượm đã chết kiểu ấy:

Cháu nằm trên lúa
Tay nắm chặt bông
Lúa thơm mùi sữa
Hồn bay giữa đồng

    Trỗi cũng hy sinh như vậy. Pháp trường này không ó lúa nhưng có cỏ, có rau của cuộc đời vĩnh viễn tươi xanh:
             Cỏ trong vườn mát dưới chăn anh Đời vẫn tươi màu lá rau xanh
Bà Má Hậu Giang thi máu vọt lên trời giữa “nước non muôn quý ngàn yêu”.
Với Bác, Tố Hữu càng không nghĩ đến cái chết. Bác

“Vào cuộc trường sinh, nhẹ cánh bay
Thôi để Người yên giấc ngủ say”
Chúng ta cũng thấy như thế.


Tâm tình bài thơ bên gối cưới

Xin phép anh Nguyên đã khuất cho tôi lấy tên một bài thơ của anh đặt cho TUYỂN TẬP này. Không phải vì hiện nay thơ khó bán, các nhà xuất bản văn thì ưng in các vụ án, thơ, thường in thơ tình ướt át lâm ly. Nhưng ngoài việc tôi biết đấy là một bài thơ anh yêu, thì lần này làm Tuyển cho anh, đọc lại gần như toàn bộ tác phẩm của anh, tôi thấy giọng tâm tình là chủ đạo, ở thơ anh, trái tim, trái tim thầm thì chính là nhạc trưởng. Phải chăng nhờ giọng tâm tình ấy mà lần đầu tiên cách đây hơn ba mươi năm, khi thơ anh vừa xuất hiện ở thủ đô, nó đã được mọi người mến mộ và giới sành thơ trân trọng. Nhưng anh Nguyên mất hơn chục năm rồi, anh có ngờ không, Bài thơ bên gối cưới hôm nay khá là thời sự. Chỉ vì từ hòa bình, chúng ta không gối trên balô, trên báng súng, trên tấc đất chiến hào nữa mà về gối đầu trên chiếc gối gia đình.

Tâm tình bài thơ bên gối cưới

Bao nhiêu việc phát sinh từ đó. Thế mà đây là điều cả một đời chiến đấu mọi người đã ước mơ:

Uớc gì đôi má chúng mình Song song trên gối gia đình hôm nay Anh nhớ lại những ngày tang tóc Bước chăn ta leo dốc vượt đồi.

Phát sinh những tai họa cho từng người và cho cả đất nước nữa, đâu phải vì ước mơ ấy, vì việc gối ấy, mà vì không nhớ, mà vì đã quên, anh Nguyên ạ! Quên những ngày tang tóc, quên đi những dốc tai ương, nhũng đồi gian khổ và cả cái lý tưởng anh hùng đã giúp ta vượt qua. Thơ anh hóa ra là một lòi báo động – báo động gì nữa – đấy là nhác nhủ.

Bài thơ cũng thời sự vì lẽ khác. Khi anh mất, anh chỉ mới nghe nói đến chiến tranh trên đất nước, trên hành tinh. Nhung bây giờ thì chiến tranh giữa các vì sao đã là chữ thường được sử dụng.

Đừng phải cảnh đêm hôm lạc lõng Phố không người, bếp chẳng lửa reo Rúc trong hầm hố bùn rêu Chiến tranh một sớm một chiều diễn ra.

Tôi tưởng như anh mói viết những câu ấy để đọc trong cuộc mít-tinh bảo vệ hòa bình nào.


Tố Hữu năm mươi năm tuổi thơ

Năm nay toàn thế giới kỷ niệm bảy mươi năm Cách mạng tháng Mười.
Liên Xô nở trước đời tôi ba tuổi

Tố Hữu năm mươi năm tuổi thơ

Tố Hữu năm mươi năm tuổi thơ, năm mươi năm tuổi Đảng, nhưng tuổi đời cũng sắp bảy mươi rồi. Đây cũng là tuổi Tô Hoài, Bùi Hiển, Nguyên Văn Bổng, Tế Hanh, Huy Cận, Anh Thơ v.v… những người dâng cả cuộc đòi mình cho văn học, cho cách mạng và cùng Tố Hữu góp phần xây dựng cho văn học ta trong nửa thế kỷ vừa qua (cố nhiên là cùng với đông đảo các anh chị già hơn hay trẻ hơn ở nhũng lứa tuổi khác). Cách mạng tháng Mười có Essenme, Bloch, Klepnhicôp – hàng chục hàng trăm nhà thơ khác, nhưng nếu chọn một một nhà thơ tiêu biểu cho Cách mạng tháng Mười, thế tất phải chọn Maia.
Ơi người anh dũng cảm
Lũy thép sáng ngời ngời
Đây Việt Nam tháng Tám
Em Liên Xô tháng Mười!
Ở ta, để chọn nhà thơ tiêu biểu nhất cho Cách mạng tháng Tám và cả tháng Mười, chúng ta sẽ chọn Tố Hữu.
Năm 1966, đồng chí Trường Chinh, tức nhà thơ Sóng Hồng, đã viết ở tựa tập thơ mình: “Thơ cũng như nhạc, có thể thành một sức mạnh phi thường khi nó chinh phục được trái tim của quần chúng nhân dân. Đó là trường hợp Maiakovski ở Liên Xô từ sau
Cách mạng tháng Mười, thơ Hồ Chứ Tịch và thơ Tố Hữu ở nước ta ngày nay”. Đồng chí giải thích thêm: “Vì sao thơ lại có tác dụng to lớn như thế? Vì nó diễn tả một cách chân thật và rung động những tâm tư và tình cảm sâu sắc nhất của một giai cấp hoặc của một dân tộc trong những thời kỳ lịch sử nhất định”.
Năm mươi năm, bảy mươi năm… Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình. Và cũng biết bao nhiêu tình hình thời sự. Nhưng trước khi kết thúc, cho tôi kể một kỷ niệm riêng giữa người đề tựa và tác giả.
Tôi và Tố Hữu bước vào làng thơ đâu cùng một thời kỳ. Nếu tôi lên đường thơ là có công Hàn Mặc Tử, thì tôi lên đường thơ Cách mạng là có công Tố Hữu. Không phải chỉ là việc gặp anh khi Cách mạng thành công:
Gặp anh lần thú nhất
Lòng im mà tưởng khóc
Ôi tháng Tám sông Hương
Phòng Việt Minh Trung Bộ
Mùa thu, hoa phượng còn
Lần đầu ta gặp gỡ
Huế như bừng mắt mở
Cờ hồng bay Ngọ Môn
Trước nữa kia. Vào khoảng 1942,1943 gì đó. Ở trong thành Bình Đinh của Yến Lan và của tôi kia. Sáng ấy tôi đi dạo trong thành, lòng vô tư, thanh thản. Ngỡ như trên đời này chỉ có thơ và ánh sáng mặt trời ngày hôm ấy mà thôi.
Thế rồi đập vào mắt tôi tờ truy nã “Tố Hữu Nguyên Kim Thành, tên cộng sán vượt ngục” của đế quốc Pháp và ngụy quyền Bảo Đại dán trên tường. Tố Hữu, một người làm thơ như tôi đây, cùng tuổi với tôi đây, cùng quê miền Trung với tôi nữa… Thế mà… Trong thế giới thơ tôi sáng ấy bắt đầu có một đường nứt rạn. Cố nhiên có trăm sự kiện lớn lao hơn nữa tạo ra nứt rạn ấy. Nhưng TỪ ẤY, từ sự nứt rạn ấy, một tôi cũ về thơ lui dần, mất dần đi, và hình thành xuất hiện một cái tôi mói về thơ sau này, qua bốn mươi năm cách mạng.
Rồi anh dắt tôi đi
Lên đường thơ Cách mạng
Có cả cái hình truy nã trên tường năm 42-43 ấy dắt tôi.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: van hoc hien thuc

Bút pháp thơ văn mộc mạc trong thơ

   Tố Hữu đã không duy lý, đã ở “giữa quãng có thể giải thích được và không thể giải thích được” (khả giải bất khả giải chi gian) để viết:

Có thể nào khuây? cỏ cây vẫn nhắc
Từng ngọn cỏ cành cây miền Bắc
Vẫn rung rinh theo gió tự miền Nam…
… Chắc Người thương lắm lòng con trẻ
Nên để bâng khuâng gió động rèm

Bút pháp thơ văn mộc mạc trong thơ

    Gió hóa có hồn. Anh đã tạo ra cái hồn ấy cho gió. Tạo một cách thầm lặng, nhẹ nhàng, chỉ một vài chữ cũng đủ đưa ta từ khí hậu này sang khí hậu kia, sự vật này hóa thân thành sự vật khác:

… Trái buởi kia vàng ngọt với ai
Con cá rô ơi, chớ có buồn
… Núi này Bạch Mã Hải Vân
Mây đưa anh giải phóng quăn lên đèo

… Anh dắt em vào cõi Bác xưa Lãng mạn và hiện thực có lúc đồng sàng dị mộng, nhưng có lúc lại trò chuyện thầm thì cùng nhau trên giường ấy. Khốn nỗi, ta đôi khi đã từng xem nhẹ hư ảo, xem nhẹ giấc mơ, về thơ đã nghĩ “thật, thật, thật, chân, chân, chân” là đủ. Ta có lúc nghĩ rằng hiện thực chỉ là sử, là mùa màng, trận đánh, là những gì ta thấy bên ngoài, chứ không bao gồm cả những gì nghe thấy, cảm thấy mơ hồ, nghe thấy bên trong… Ta từng khen Tố Hữu tả quần chúng Lượm, bà Bủ, Bầm là cao hơn khi anh viết “Nỗi niềm chi rứa Huế ơi” tự thể hiện. Nếu cứ thế thì ta sẽ khen Bác khi viết về nhũng người tù đánh bạc, về ông Quách cho than là hay hơn khi viết “Dữ làu không làm bài thơ nào” tự thể hiện. Bác dạy ta “Nay ở trong thơ nên có thép”, dó là khuynh hướng. Chớ bút pháp thì “tình phải thẩng mà văn phải cong”, phải dùng cái mơ mà nói cái thực kia.

Mơ thấy cỡi rồng lên thượng giới
Tỉnh ra trong ngục vẫn nằm trơ

Aragon gọi là mentir vrai (nói dối thật). Mai Dinh Mộng Ký của ta viết từ mấy thế kỷ trước “các bậc đại giác thường đại mộng”. Ta có thể nói: “Nhờ có trái tim lãng mạn lớn, Tố Hữu là nhà thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa lớn của ta”.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: văn học hiện thực

Đọc lại thơ Tố Hữu

      Ai nói cho hết tác dụng những câu thơ đứng từ phía sự sống, từ phía vầng dương này đã giúp cho chúng ta đối chọi cùng chiến tranh, bom đạn, bóng tối, xương trắng, sọ dừa, mà không thành Hamlet.

Đọc lại thơ Tố Hữu

       Đấy, một bên là mặt trời. Nhưng nếu chỉ có nó thì thơ anh đến khô mất. Vậy thì một bên là hồn anh, hay trái tim anh thì cũng thế, nó đang say, say và có sắc hương, và có gió, và có chim chóc, thiên nhiên một phe với nó. Nói rõ ra là trái tim lãng mạn, chứ sao… Hình như có lúc có khi ta đã kiêng, e ngại chữ ấy. Lãng mạn là thoát y, là tiêu cực, là trái ngược cùng hiện thực v.v… Làm sao nhà thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa lớn nhất của cả nước mà lại lãng mạn? Có thể xưa kia anh là lãng mạn, giờ đã hiện thực rồi, anh vứt bỏ lãng mạn để mà hiện thực v.v… Phiền quá, cái mà ta ngỡ sau trước tuần tự trong thời gian, thì nó lại đồng thời trong bộ não ta đấy! Bán cầu bên tả thì biện luận khá rành rọt, như mặt trời. Mà cái bán cầu bên hữu thì lại lơ mơ lãng mạn kia đấy. Dấu hiệu, triệu chứng của người lãng mạn là thế nào. Tố Hữu tự cung khai:

Đường vào như tỉnh, như mê
Đường ra phía trước, đường về tuổi xuân
Đó là anh đang ở trên đường đi B, rất thực.
Em là ai, cô gái hay nàng tiên?

Đó là anh đang hỏi về chị Lý, cũng rất thực cho đến trước tang lễ của Bác rất thực, anh vẫn nghĩ:

Cứ nghĩ: Hồn thơm đang tái sinh
Ngôi sao ấy lặn hóa bình minh

“Hóa” là chữ nhiều lần đến dưới bút anh:

Tim bỗng “hóa” mặt trời…
… Dây cuộc hồi sinh, buổi “hóa” thân

Nhìn sự vật cái này hóa thành cái khác, đó là tâm trạng của người say, người mơ, lãng mạn. Anh không giấu điều đó. về nước ngoài, anh viết:

Cuba hòn đảo Lứa, đào Say
Ở đây say thật, say trời đất
Sóng bể say cùng rượu mật, say…

Nhưng về chiến trường, tiền tuyến, anh cũng không sợ dùng chữ say kèm với mơ với mộng ấy:

Đã hay đâu cũng say tiền tuyến
Mà vẫn băng khuâng mộng chiến trường

Và về sự ra đi của Bác:
                                   Thôi để Người yên giấc mộng say
      Thế là rơi rớt của chủ nghĩa lãng mạn, của thời kỳ trước Cách mạng phải không? Thôi đi, bái cả nón cái kiểu tư duy ấy. Những nghiên cứu về bộ não con người đã phân biệt ra hai loại giấc ngủ xen kẽ nhau trong khi ta ngủ. Giấc ngủ chậm giúp ta ngủ để lấy lại sức. Và giấc ngủ nhanh còn gọi là ngủ nghịch lý (sommeil rapide hay paradoxal) trong đó ta ngủ mà như không ngủ: bộ óc làm việc chiêm bao, mơ mộng, có khi ác mộng. Thế nhưng nếu không có giấc ngủ có mơ, có nằm thấy chiêm bao thì bộ óc không giải quyết các vấn đề nội bộ của nó, tức là của ta. Ta sẽ ốm, sẽ đau, sẽ vỡ não, sẽ ngu đần, không sáng kiến, sáng tạo, phát minh gì hết…

        Những năm gần đây, ở Liên Xô, chữ lãng mạn thành một từ khen ngợi. Sau Ulanôva tuyệt vời, sau Plixetxkaia mà thi sĩ tài năng Vôsnêxenxki từng ca tụng, bây giờ người ta đang nói đến nghệ sĩ balê Betxmectnôva về cái “bí ẩn lãng mạn” tài nghệ “siêu nhân” của chị. Nhà phê bình sân khấu Alêchxăng Ađencô hỏi chị cái sức dai bền của chủ nghĩa lãng mạn có từ đâu, chị đáp: “Giờ là thời đại của sức nhanh siêu thanh, của thám hiểm bầu trời, đáy biển, thời đại gạt cái chết sang bên. Không phải chi có công của chú nghĩa duy lý mà còn có đóng góp của chủ nghĩa lang mạn, của giấc mơ trong ấy”.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: văn học hiện đại Việt Nam