Hàn Mặc Tử, anh là ai?

         Bây giờ Hàn Mặc Tử nằm trên một điểm cao Gành Ráng đối diện với bể Đông, bể chói lòa như thơ anh và giông bão tựa dời anh. Nằm với trăng sao như anh từng mơ ước:

Hàn Mặc Tử, anh là ai?

        Với sao sương anh nằm chết như trăng Dưới kia là thành phố Quy Nhơn (những thành phố miền Trung thường có các nhà thơ ở trong và biển mé ngoài), thành phố của mẹ già nuôi anh “cơn lăm lụy vừa trải qua dưới thể’, của chị Lễ “Chị cũng trăng mà em cũng trăng”, của em Hành đem cơm cho anh trong suốt bốn năm trời anh phong hủi, và trước khi vào Quy Hòa để qua đời trong đó, nghe đâu, Tử đã sụp lạy cảm ơn em. Quy Nhơn, thành phố của bạn bè, của bóng dáng tên tuổi những người yêu, cũng là noi Tử phải trốn chui trốn nhủi để khỏi bị bắt đưa vào trại cùi trong núi. Nhưng Quy Nhơn đối với Nghĩa Bình, đối với cả nước là noi anh viết những trang thơ ngời chói, máu và nước mắt đời anh đã khúc xạ, đã biến hóa, đã hóa kiếp, thăng hoa, kết tụ thành trăng sao:

      Chỉ có trăng sao là bết diệt Cái gì khác nữa thảy đi qua.

        Thôi cả cuộc đời bi thảm của Tử kia, dù bi thảm đến đâu thì cũng đã qua rồi. Cái còn lại là những bài thơ đã từ thờianh đi thẳng vào “thời đại lớn” (chữ của Báctin), rồi hôm nay từ “thời đại lớn” ấy về với thời chúng ta.

        Một mai kia ở bên khe nước ngọc Với sao sương anh nằm chết như trăng Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc Đến hôn anh và rứa vết thương tâm.

        Bậy nào, sao lại không? Hôm nay có hàng vạn rồi hàng chục vạn tấm lòng đến cùng Tử đấy.

        Tôi không muốn nhắc lại cuộc đời của Tử, vì người ta đã viết thêm quá nhiều, và cũng viết bớt quá nhiều. Viết bậy càng lắm lắm. Ở thành phố Hồ Chí Minh, trên xe buýt hiện nay mỗi lần tôi đi xuống phố lại được nghe Hàn Mặc Tử, tình nhân và bạn bè anh đang ca vọng cổ, xuống xề trong các băng nhạc cũ lâm ly. Nói chi các quyển sách, vở kịch, tranh truyền hình tiểu thuyết nữa, khai thác ly kỳ, huyền thoại hóa đòi anh, đến nỗi một tờ báo Sài Gòn cũ cũng không chịu nổi phải kêu lên: “Hàn Mặc Tử đã chết rồi, xin chớ giết ông lần nữa”.

         Năm ngoái, một nhà báo ở Hà Nội vào đến tận Quy Nhơn làm hai trang dài về Quy Hòa còn viết bậy. Chả là trước khi đến thăm mộ Tử phải qua một cái dốc, mà không hiểu sao ai đó đã chả nghiên cứu gì về Tử hết, lại đặt tên là dốc Mộng cầm. Nhà báo trung ương liền tự hào về “nhân dân ta đã biết ơn một người chung thủy”. Theo nhà báo thì chị M.đã về Quy Nhơn nuôi Tử và “tuy yêu mà vẫn sợ nên nàng lấy một cái cặp dài, cặp một lon cơm mà đưa cho thi sĩ. Thi sĩ không tự tử là may lắm”. Câu thi sĩ không tự tử là may lắm không phải câu tôi bình luận nhà báo kia đâu. Chính là của nhà báo đè cao người yêu Tử đấy. Thì ra cái vị báo này không đọc sách nghe cải lương và xem báo nữa kia.