Yếu tố trong thơ của Tố Hữu

      Chỉ với hai yếu tố trên: phản ánh con người và có khuynh hướng, có lý tưởng đủ để xếp anh vào nhà thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa. Nhưng anh đã hiện thực không phải chỉ bằng bộ ốc, cái nhìn, dù là cái nhìn, bộ óc chói ngời chân lý mà bằng cả sự say sưa, mơ mộng đậm hương, rộn tiếng chim của trái tim, của tầm hồn. Nhà thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa ấy rất là lãng mạn! Và đây lại là một tế bào khác, một đoạn văn khác biểu hiện những điều này:

Yếu tố trong thơ của Tố Hữu


Ta ôm nhau, hôn nhau, từng mái tóc
Hả hê chưa, ai bịt được mồm ta?
Ta hát huyên thiên, ta chạy khắp nhà
Ai dám cấm ta say, say thần thánh
Ngực lép bốn nghìn năm, trưa nay cơn gió mạnh
Thổi phồng lên. Tim bỗng hóa mặt trời
Có con chim nào trong tóc nhảy nhót hót chơi
Ha! Nó hót cái gì vui vui nghe thiệt ngộ
Gió, gió ơi, hãy làm dông làm tố
Cuốn tung lên, cờ đỏ máu thơm tươi
Vàng vàng bay, đẹp quá, sao sao ơi!
Ta ngã vật trong dòng người cuộn thác

     Ta lại thấy các yếu tố: lý tưởng, dòng người, thiên nhiên, tâm hồn, ngoại cảnh, nội tâm như ở tế bào trước. Tố Hữu là một. Nhưng cái một anh không phải là đơn chất, mà hợp chất, liên chất, làm bởi nhiều… ít hay là bởi hai yếu tố. Yếu tố thứ nhất là: mặt trời. Mặc dù đứng dưới sao vàng, say sưa gọi “sao sao ơi”. Tố Hữu rất ít nói đến sao, đêm sao, trời sao thường thấy trong thơ Huy Cận. Anh cũng ít tả trăng như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử và khi tả thì trăng anh sáng gần giống mặt trời (hình như chi có một lần nói đến trăng lu).

… Trăng đầy mặt nước, trăng như mặt người
Trăng tươi mặt ngọc trên trời
Trăng trong tù được tả:
Trăng bằng vàng diệp
Mây bằng thủy ngân
Trời tung sắc đẹp
Thơ văn lên vần
Nói chi trăng trên Lăng Bác:
Một vầng trăng sáng như trăng đêm rằm

Khuynh hướng Tố Hữu thiên về ánh sáng, ban ngày, mặt trời và mặt trời vào lúc rạch ròi, chính xác nhất. Ban trưa. Valéry gọi là Midi le Juste. Và ta gọi gần đúng như thế, Chính Ngọ. Nhớ trong tù, là nhớ vào trưa:

Gì sâu bằng những trưa thương nhớ

Thăm quê một bà mẹ cũng ban trưa:

Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa
Một buổi trưa nắng dài bãi cát

Hội đồng Chính phủ họp về trưa:

Nắng trưa rực rỡ sao vàng
Trung ương Chính phủ luận bàn việc công

về nước ngoài, cũng dưới nắng ban trưa mà anh tả:

Anh đến Cuba một sáng ngày
Nắng rực trời tơ và biền ngọc…
… Vácxava ấm nắng ban trưa


Nghĩ về thơ, nghĩ về Tố Hữu

       Mỗi khi nghĩ về thơ, về văn học, tôi hay nhớ những ý của giáo sư di truyền học Youri Rytchov, giám đốc một viện di truyền lớn ở Liên Xô. Giáo sư nói đến thuyết đa hình (polymorphisme) đảm bảo cho nhân loại tồn tại.      Trong toàn lịch sử loài người không có lấy hai mẫu người hoàn toàn in đúng nhau, kể cả sinh đôi. Nếu về phương diện di truyền điều ấy xảy ra nghĩa là nhân loại giống nhau, không đa dạng, đa hình thì nhân loại bị tiêu diệt. Khi bàn về thơ cũng vậy. Lẽ ra hỏi người ấy hơn hay kém người khác thế nào, ta nên hỏi: người ấy hình dạng hình dong khác người khác thế nào, người ấy là ai? Chính cái khác đó, ai đó góp vào sự phong phú đa dạng và cả sự tồn tại của văn học. Tố Hứu là ai? Anh có gì khác các nhà thơ khác…

Nghĩ về thơ, nghĩ về Tố Hữu

       50 năm nay, hàng trăm bài báo và cả những tập sách riêng viết về anh rồi. Tôi cũng chỉ lặp lại những gì người khác nói. Nhưng tôi thử dùng một cách khác. Các bạn đã tổng kết, tổng hợp, khái quát về anh. Tôi thử phân tích. Các bạn đã nhìn toàn bộ, đời, tác phẩm, lý luận, tôi vào vài tế bào thơ. Các bạn nói chuyện lý lịch tác giả, ảnh hưởng tác giả trong quần chúng v.v… những chuyện ngoài văn. Tôi thử bó lại trong văn, vào các yếu tố làm ra nó. Các bạn bình Tố Hữu, ở đây tôi để Tố Hữu tự chứng minh mình. Rồi chúng ta cũng gặp nhau thôi. Nhưng hãy thử tìm một cách khác:

Tứ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim…

… Tôi buộc lòng tôi với mọi người Tất cả Tố Hữu, thi pháp, tuyên ngôn, những yếu tố làm ra anh có thể tìm trong tế bào này. Anh là nhà thơ “của vạn nhà”, buộc lòng mình cùng nhân loại. Có phải vì lẽ ấy mà anh làm rất nhiều thơ về người, thơ anh có nhân vật như tiểu thuyết, hơn thế, anh còn làm thơ kể chuyện, vì đã yêu người thì không phải chỉ yêu có tâm hồn, tâm lòng, mà yêu cả chuyện người (Lượm, Mẹ Tơm, Anh Trỗi, Morisson… các em bé, các bà mẹ..) Anh là nhà thơ phục vụ chân lý, sử dụng trí tuệ. Có phải vì vậy mà thơ anh nhiều lúc dùng dạng châm ngôn:

Đã vay dòng máu thơm thiên cổ
Phải trả ta cho mạch giống nòi
Ta vì ba chục triệu người
Cứng vì ba ngàn triệu trên đời


Bài thơ có một đời sống khác

Tôi đã đến Milăng quán ấy
Phòng xưa, ghế cũ, dạ xôn xao
Hỏi thăm ông quán. Còn cô cháu
Nhớ Bác Hồ qua những độ nào
Cảnh là cảnh Ở Milan, nước Ý.

        Một cái quán rất thực, phòng, ghế rất thực, và cụ thể Bác Hồ ta đã đến đó rồi.       Nhưng hình như bài thơ lại có một đời sống khác. Nó không tả phong cảnh không gian trên. Nó không chỉ nói về Bác, về Milan, về quán, về ghế, về phòng. Nó nói cái gì chảy trôi mất mát, cái gì đã qua không tìm thấy lại trong đời. Thôi rồi, thời gian, nó trôi. Đời người, nó nói.

Bài thơ có một đời sống khác

       Có một lần tôi bị lạc giữa đêm vắng tối om của vùng hậu địch. Cuối cùng tìm ra được lối đi nhờ một ánh lửa ở cuối cánh đồng. Đến nơi mới biết đấy là ngọn đèn trong buồng bà chửa. Ngọn đèn ấy là sự vật (chose) với bà, nhưng lại mang ý nghĩa khác, thành tín hiệu (signe) khác với tôi ở nơi xa. Muốn thế, nó cần đủ sức chiếu xa và sáng. Thơ cũng vậy. Những câu sau này viết về cảnh ngừng bắn:

Hôm nay vui đến ngỡ trong mơ
Một trời êm ả xanh không tưởng
Mặt đất bình yên giấc trẻ thơ…

      Nhưng nó có ngân vang khác, nghĩa khác phải không?
      Nó đưa ta về nguyên sơ nhân loại, về tuổi hoa niên của ta, về mặt giếng trong, tờ giấy trắng của những tấm lòng:

Hương đâu thơm lựng rừng hè
Nhặt cánh lá quế mà tê tái lòng
Trà My đây hỡi Trà Bồng
Có hay cây quế đợi trông tháng ngày

      Cảnh tả rừng núi Khu Năm trên con đường tác giả đi B, “nước non nghìn dặm”. Trà My, Trà Bồng là hai tên đất. Thế mà chị Trà Giang à, tôi ngỡ đâu là hai cô thiếu nữ nào tên gần với chị đang nhắc cùng nhau về một dĩ vãng ngát hương nào:

Em đi cùng anh lên thành xưa
Vacxava ấm nắng ban trưa

      Thì lại không phải cảnh Ba Lan nữa, Hình như tác giả đưa ta lên một lâu đài hạnh phúc. Xin lỗi tác giả, xin lỗi độc giả – tôi không muốn nói là con diều tác giả cầm trên tay, thoát khỏi tay tác giả rồi, lên trời rồi, nó bay đi đâu cũng được. Đâu phải thế! Câu thơ bay được từ nghĩa này đến nghĩa thứ hai, thứ ba nào đó, là vì tiềm ẩn trong đôi cánh nó đủ sức lực, ý nghĩa cho nó bay, tiềm ẩn cả trong hướng bay nữa đấy. Từ những tri kỷ, tri âm, đồng chí, đồng tình nó bay đến những người chưa tri gì với ta, và chưa đồng gì hết. Nhưng thơ phải bay như thế thì nó mới làm được cái nhiệm vụ cảm hóa, đồng hóa, giao lưu văn hóa, chứ sao.
       Khi tính một nhà thơ thế kỷ này có đến được thế kỷ khác không, ấy ấy, là phải tính cái khoản thoát ra, bay xa, bay đến… ta vừa mới tính đó.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: văn học cách mạng

Chất thơ mộc mạc, giản dị của Tố Hữu

      Một nhà thơ viết nhiều mà khi tính bài, không để lại bài nào thì có hay gì! Phải là cánh đồng tam thiên mẫu, nhưng lại phải có từng thửa ruộng năng suất cao. Việc ấy khuyến khích ta mở rộng đào sâu, vừa lo quy mô lại vừa lo hoàn chỉnh dứt điểm từng bài.       Mừng cho Tố Hữu là người ta sẽ nhớ anh không phải như một đời, một khối, mà trên từng bài nữa.

Chất thơ mộc mạc, giản dị của Tố Hữu

       Thế kỷ này sắp đi qua. Nó sẽ trao cho thế kỷ sau hàng trăm bài thơ bất tử, kể cả bài của những tác giả vô danh, của những người như Nguyễn Nhược Pháp chỉ có hai bài! Nhưng nếu thế kỷ sau, ngoài đội ngũ, ngoài bài, lại khắt khe ác nghiệt đòi ta chọn chỉ dăm bảy tên người. Và không phải chỉ của giai đoạn vừa qua mà của cả thế kỷ này, thì tôi nghĩ Tố Hữu nằm trong danh sách chật hẹp đó.
      Nhưng thôi, thơ mà, nói làm chi chuyện ấy. Ba bài thơ của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước tặng Tố Hữu dịp này nhắc cho tôi một ý của Tố Hữu “Thơ là của những người đồng chí, đồng tình!” Có lẽ phải thêm: đồng không gian, đồng thời điểm lịch sử nữa. Phải sống những ngày đất nước chia cắt, mới hiểu hết cái âm vang của:

Lòng ta không giới tuyến
Lòng ta chung một Cụ Hồ
ta chung một Thù đô
Lòng ta chung một cơ đồ Việt Nam

Phải sống những ngày thống nhất, đoàn viên mới hiểu vì sao ta rung rung nước mắt để đọc:

Hăm chín năm dằng dặc xa quê
Nay mới về thăm, mừng tái tê Rồi:
Cơ chi anh được về với Huế
… Cơ chi anh sớm được về bên nội
… Cơ chi anh sớm được về bên ngoại

Đúng là thơ cần những người đồng chí đồng tình… Nhưng… nhưng rồi một ý khác ngược lại nữa đã đến cùng tôi. Số là khi Claudel – nhà thơ vĩ đại mà công giáo, lại chống Cộng nữa – mất, thì Aragon, nhà thơ cộng sản vĩ đại viết: “Tôi muốn có được tài năng ông để ca tụng Đảng tôi như ông ca tụng Chúa”. Và cô bé nhà bên cạnh suốt tuần lễ cứ ngân vang:

Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan
Đường bạch dương sương trắng nắng tràn
Tôi hỏi:
– Cháu có ở Ba Lan?
– Không.
– Cháu có quen ai bên đó?
– Đâu có!
– Thế sao cháu ngâm mãi hai câu ấy?

       Cô bé thẹn thò: “Cháu không biết nữa”. Thì ra cô ấy đang yêu! Người yêu cũng chả ai có tên Lan, tên Ba, tên Dương, tên Bạch gì cả. Nhưng nghe xem! “Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan”, những âm an reo lên trong ấy. Rồi những âm ương, âm ắng trùng điệp, vang dội trong “Đường bạch dương sương trắng nắng tràn”. Chả phải tâm trạng của người đang yêu, của cái gì như tuyết tan, nắng tràn nắng chảy đó sao? Bài thơ từ một nghĩa chính trị ở Ba Lan, thoát ra để đa mang thêm một nghĩa khác với cô bé này.


Đọc thêm tại: http://nhavanvacuocsong.blogspot.com/2015/07/cach-mang-trong-tho-to-huu.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: van hoc lang man

Cách mạng trong thơ Tố Hữu

      Tôi đang ở thành phố Hồ Chí Minh. Năm chữ ấy vào thơ lần đầu tiên cách đây 33 năm, thơ Tố Hữu! Tiền Giang, Hậu Giang bây giờ cũng có tên ngày ấy trong thơ.
Ai đi Nam Bộ 
Tiền Giang, Hậu Giang
Ai vô thành phố
Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng
       Ta đổ máu vót từng cây chông diệt Mỹ. Thế nhưng trong thiên hạ có người vẫn thích “luận” thứ “văn chương” trái đạo lý, lương tâm, lẫn lộn cả bạn – thù, phải – trái. Tố Hữu là người đầu tiên biên niên cái sự kiện ấy. Biên niên bằng hai câu thơ.

Cách mạng trong thơ Tố Hữu

Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ
Hơn nghìn trang giấy luận văn chương
và bằng bốn câu thơ khác:
Thù – bạn đời nay có khác xưa
Nghĩa tình e sớm nắng chiều mưa
Chợ trời thật – giả dâu chân lý
Hàng hóa lương tâm cũng thiếu – thừa!

      Ấy quên, tôi lại nói chuyện chính trị rồi. Thơ chính trị chỉ thành thơ khi từ chính trị nó lên tầm lịch sử. Thường thì Tố Hữu đưa lèn được và rất tài tình. Như chả cần làm một động tác nào. Đại loại như:

Trẽn đường ta về lại Thủ đỏ
Cờ đỏ bay quanh tóc bạc Bác Hồ
Hoặc:
Biển này, cửa Thuận sóng reo
Thanh thanh vành mũ tai bèo là em

      Vô số câu như vậy. Nhưng có lúc nó không lên, nó chỉ là thơ chính trị thôi. Dù anh dùng dến tên nó mà gọi “lịch sử’, thì nó cũng nằm ỳ ra đấy:

Lịch sứ sang trang
Đại hội Đảng mở mùa vui phơi phới

      Tố Hữu là người mở đường và dẫn đường trong nền thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đến nay anh vẫn trên đường. Nhưng có phải đâu vì thế bài nào của anh cũng hay, viết về mặt nào anh cũng đạt. Rồi đây của năm mươi năm thơ ấy, nhiều bài sẽ rụng. Ngay trong những bài hay cũng có những đoạn, những mảng, những câu sẽ rụng. Đó là quy luật, là “cửa tử” mà tất cả các nhà thơ lớn, nhỏ đều phải trải qua. Nhưng qua xong rồi, Tố Hữu còn lại nhiều lắm.

      Còn lại một số bài trước Cách mạng. Còn lại một số bài hồi Việt Bắc, lúc về xuôi. Còn lại một số trong những trang anh viết về quê, về bà mẹ mình và các bà mẹ khác. Còn lại một số bài trong mảng tâm huyết anh viết về miền Nam. Tài và tình quyện nhau trong Nước non ngàn dặm. Ôi, viết hay nhất, xúc động nhất về Bác phải là anh đấy. Xin lỗi Maiakốpxki, Maia rất là vĩ đại. Nhưng tôi yêu Theo chăn Bác của Tố Hữu hơn Trường ca, Maia viết về Lénine. Tôi tự giải thích: Maia ít gần Lénina Tố Hữu ở lâu cùng Bác. Maia biện luận. Tố Hữu tâm tình. (Còn khi viết về Lénine, Tố Hữu không bằng Maia được, tất nhiên thôi).
Từ khóa tìm kiếm nhiều: văn học lãng mạn