Cách mạng đối với Hàn Mặc Tử ra sao

     Ta hãy để cho ta cuộn đi trong dòng nhạc, cái nhạc mới nghe chưa hiểu nó nói gì, chỉ cảm được nó ru ta, nhưng đừng sốt ruột, son (âm thanh) đi trước và sens (ý nghĩa) sẽ lần theo sau, lần theo sau, đừng sốt ruột.

Cách mạng đối với Hàn Mặc Tử ra sao

Sang chơi thôi, sang chơi thôi, mà ai

Thu đây rồi! Bước lên cầu Ô ThướcSao vàng rơi đầy trên sóng nước

 Đứng ngửa tay mà hứng máu trời sa.

Rồi lại:

Để chơi vơi này bông trăng lá gió

Để phiêu diêu này tờ thơ vàng vọ

 Để dầm dề hạt lệ đôi ta.

     Beethơven nói rất đúng: “Âm nhạc là một sụ thiên khải cao hơn mọi khôn ngoan, mọi triết học”. Đổ cho cái nhạc dại dại của đoạn thơ này ru ta, nghe những máu kia, sao trời kia, tờ thơ kia, giọt lệ nọ, bỗng dưng ta thấy lóe ra như được khôn ra, được thiên khải và nhận ra rằng: Hàn Mặc Tử đây rồi. Máu và sao, chơi vơi và vàng vọt, phiêu diêu trăng gió và hạt lệ dầm dề.

     Cái cấu trúc nghịch lý của Hàn Mặc Tử! Hồn tráng lộ của anh đấy, mà thảm kịch của đời anh đấy. Hiểu rồi!

     Đi công tác ở một số nước phương Tây, tôi thường gặp anh chị em Việt kiều xa nước lâu ngày, gặp anh chị em di tản nữa. Các anh chị hỏi: “Cách mạng đối với Hàn Mặc Tử ra sao?” Ra sao ư? Cách mạng đã đón di hài vua Duy Tân về nước vừa rồi, Cách mạng cũng đón thơ của Tử như vậy. Cách đây từ những ba mươi năm tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai năm 1957, lúc đất nước mới chỉ có tự do một nửa, thù trong giặc ngoài làm cho Tổ quốc ta ở trong thế ngặt nghèo, thế mà bàn về vấn đề tiếp thu di sản, đồng chí Trường Chinh đã nói: “Cán nhận ra rằng văn nghệ Cách mạng của chúng ta là kẻ kế thừa tất cả nhang giá trị văn nghệ do các thời đại trước tạo ra. Chúng ta có nhiệm vụ giữ gìn và phát triển tất cả các di sản của dân tộc và cũng chi có chúng ta mới lãm nổi công việc đó”.

     Hai lần đồng chí dùng đến chữ tết cả. 1957-1987! Ba mươi năm, chiến tranh cũng chiến tranh rồi, hòa bình cũng hòa bình rồi, nếu không tiếp thu Tử bây giờ còn đợi đến lúc nào? Giao cho con cháu tiếp thu thì con cháu sẽ lên án chúng ta thôi. Sao cái gì cũng dồn cho chúng nó? Chúng nó còn bao nhiêu việc. Huống nữa tiếp thu Tử là lợi cho chúng ta chứ lợi gì cho Tử đã chết cách đây nửa thế kỷ. Anh Trường Chinh dặn tiếp: “ Việc uốn nắn lại những thái độ hẹp hòi mây móc dối với nhang giá trị văn nghệ ca không nhang có tác dụng sửa chưa nhang thái độ bất công dối với nhiều tác phẩm mà còn có tác dụng mở rộng con đường cho sáng tác văn nghệ hiện thời”. Thực là chí tình đạt lý.
Từ khóa tìm kiếm nhiều: văn học hiện thực phê phán

Tiếng cười, tiếng khóc, sự sống chết

       Đầu cân bên này là tiếng cười ha ha, đầu cân bên kia lại là một cuộc đời bi thảm vào bậc nhất. Giá tiếng cười ấy đắt lắm, nặng đồng cân lắm, chứ đâu phải thứ nhởn nhơ cười, hể hả cười của chúng ta đâu.

Tiếng cười, tiếng khóc, sự sống chết


Xin dâng này máu đang tươi

Này đây tiếng khóc giọng cười chen nhau.

      Ta có chịu nghe tiếng cười đắt giá đó không? Và có không lối ném tiếng khóc kia đi, hắt cái máu kia đi, đủ lọc lấy có tiếng cười (đã vô trùng hóa) rồi đưa vào TUYỂN TẬP. Nhưng nghe tiếng khóc kia, thì ta có bị nhiễm độc gì không? Ngược lại, giữ gìn bịt tai không nghe nó, thì ta có bị thiệt thời gì?

       Ồ, mấy chục năm trời đánh nhau với những tên giặc quỷ sứ khổng lồ, lắm lúc ta phải trị lấy ta rồi mới đánh được giặc. Luyện chúng ta từ bùn, từ bùn thành ra sắt thép là vô cùng cần thiết. Nhưng đánh xong giặc rồi, cậu bé Phù Đổng phải nhanh chóng trở lại làm hồn nhiên con trẻ chứ. Thế thì mới đủ sức hóa thành sắt thép kỳ sau. Đó là quy luật ức chế và hưng phấn của Pavlov thôi, chả có gì lạ.

      Những năm tháng trọng đại đó, ta cần tỉnh thức nên sợ cả mộng mơ thiếp ngủ. Chỉ chợp mắt một tí thôi, có khi đê vỡ, giặc tràn. Huống nữa là cái đê tư tưởng! Đồng chí Lê Duẩn bảo: “Nhiều người, hai người, một người, cá nhân, lứa đôi, tập thể”.

      Những năm ấy, không có tập thể nhiều người thì mất mạng, nên có khi ta cảnh giác lúc chỉ có hai người, lúc trơ trọi một người. Tố Hữu mới viết: “Đêm cuối năm riêng một ngọn đèn” thì đã có nhiều người không muốn có riêng và một ấy. Con người ta thích nó giữa đội-hình-đồng-đội, tập-đoàn, hơn thế, lại là đội-hình-đang-chiến-đấu, và tập-đoàn-đang-sản-xuất. Ta ưa nó ở thế động, hành động, lao động với tất cả ý chí, reo hò, vỗ tay đôm đốp, và ta ngại nó khi tĩnh lặng, khi xúc cảm. Có xúc cảm thì cũng là xúc cảm phấn khải, chứ hay chi cái xúc cảm buồn! Ôi, Tử ơi, thế mà Tử lại cùng cực đau buồn:

Ta trút tình hồn giữa lúc đây

Gió sầu vỗ hạn thổi trong cây

Còn em sao chẳng hay gì cả

      Ta không hay, hoặc là không muôn hay, không dám hay. Ta không hay rằng con người gồm các vấn đề xã hội, lịch sử mà ta quan tâm trước tiên là rất đúng, lại còn mỗi con người có một thân phận, một cuộc đời riêng. Marx hơn Karl Jaspers chỉ biết con người trong đau khổ, trong chiến đấu, trong tội lỗi, và đối diện cùng cái chết. Theo ông, đó là các điểm “cục” của kiếp người. Con người, theo ông chỉ dao động thăng trầm giữa yêu thươngvà thù hận. Marx cũng cao hơn Phật, khi Phật chi thấy sinh, lao, bệnh, tử, và dao động thăng trầm bởi tham sân si. Ôi, chết có tiền thì cũng sướng đấy. Bệnh mà thuộc giai cấp quý tộc giàu sang thì cũng khỏi bệnh ngay.


Phong cách lãng mạn, yếu tố hiện thực trong thơ văn Hàn Mặc Tử

      Trước sau Tử vẫn là lãng mạn, dùng nhiều yếu tố hiện thực, dùng nhiều yếu tố siêu thực: đó cũng là điều trước đây cha ông đã dùng. Nhưng chưa có ai dùng đậm đặc như anh, dù đó là Lê Thánh Tông ở Di THẢO, Nguyễn Dữ ở TRUYỀN KỲ MẠN LỤC, Nguyễn Du ở Văn Chiêu hồn hay lúc tả Đạm Tiên. Sau này không biết có ai thừa kế anh không? Cho nên nhìn trước nhìn sau, anh vẫn là của hiếm ở đất nước luôn luôn cần tình thức nên hóa ra quá tình táo là đất nước mình.

Yếu tố hiện thực trong thơ văn Hàn Mặc Tử

        Trên thế giới thì lại khác, cần chống lại với cái không khí duy lý đến cùng, duy lý đến cùn, duy lý quá quắt của thời đại máy móc, kỹ thuật, biểu đồ, thống kê, công thức này. Các nhà văn châu Âu hiện nay rất mê chủ nghĩa hiện thực kỳ ảo của châu Mỹ la-tinh, trong đó các yếu tố kỳ, hư ảo, ma quái, huyền thoại, siêu thực đã được phát huy để nuôi hiện thực. Asturias, Carpentier, Marquez đã được đánh giá cao và hâm mộ ở Liên Xô. Tử trong thời gian chúng tôi ở gần chỉ thấy anh nói về Baudelaừe, chớ Lautréamont, Gérard de Nerval anh cững ít nói đến, nói chi là Breton. Anh có biết hay không chủ nghĩa siôu thực? Chắc là không. Giờ bảo anh có xa gần với cái họ hàng dầy biến động, thích biến dị, luôn biến hóa đó, có khi anh giận cũng nên! Anh chỉ nói:

Một mai tôi chết bên khe Ngọc Tuyền

Bây giờ tôi dại tôi điên

Chắp taỵ tôi lạy cả miền không gian.

Hay:

Tôi điên tôi nói như người dại

Van lạy không gian xóa nhng ngày.

        Và anh giải thích vì đâu mà điên, bởi đâu mà dại: “nghĩa là tôi yếu đuối quá. Tôi bị cám dỗ. Tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật. Và nghĩa là tôi đã mất trí, tôi phứt điên. Nàng đánh tôi đau quá. Tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú”.

       Càng chứng tỏ là siêu thực của anh không phải từ sách vở ra, từ châu Âu đến, mà từ thảm kịch của anh mà ra. “Nàng” ở đây không phải là cô con gái nào đâu! Nàng đau thương đấy. Tử thường đọc Baudelaire:

Sois sage, oh ma douleur et tiens – toi plus tranquylle! (Hđy ngoan, hỡi em đau thương và em đứng yên nào!)

       Tử bảo anh khóc, anh gào, anh rú. Tử quên mất (và chúng ta cũng quên theo) là anh cười nữa chứ:

Ha ha! Ta đuổi theo trăng

Ta đuổi theo trăng

Trăng rơi lả tả ngả trên cành vàng.

Hoặc:

Hôm nay vui quá, anh Phùng ơi!

Cười nói làm sao cho hả hơi?

Mà cười được thế là không điên đâu, chả dại chút nào! Anh chả thèm làm nhà thơ của sự chết, của Hư vô, như những người viện Heidegger, viện Jaspers, rồi dán cho anh nhãn hiệu có dấu âm, có hoi âm ấy.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: văn học hiện thực Việt Nam

Hàn Mặc Tử không phải là nhà thơ siêu thực

         Văn học cần nói những vấn đề chung, phổ biến cho nhân loại. Nhưng oái oăm chưa, nó lại đòi cái người nói đó là một cá nhân, một bản lĩnh, một sắc thái riêng, không giống ai, chỉ có một bản duy nhất, không lặp lại hai lần. (Nói thế chứ trong văn học, người ta vẫn na ná nhau khối ra đấy!). Hàn Mặc Tử thì không. Anh chỉ có một, thật. Như một Rimbaud của Pháp, một Holderlin của Đức, một Edgar Poe của Mỹ, một Bồ Tùng Linh của Trung Quốc, một Maiakovski (trước cũng như sau Cách mạng tháng Mười) của Liên Xô.

Hàn Mặc Tử không phải là nhà thơ siêu thực

      Chúng ta cần có người tả trăng là trăng. Nhưng cũng có người vượt lề thói tập đoàn mà xẻ trăng ra làm hai nửa: Vầng trăng ai xẻ làm đôi (KIỀU), cần truyền thống, lại cũng cần biến dị, cần nói điều chưa ai nói (người ấy không nói thì ta mất đi, nghèo đi cái điều đặc biệt, duy nhất người ấy nói ra).

Hôm nay có một nửa trăng thôi

Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi

 Ta nhớ mình xa thêm đứt ruột

       Không phải ma thuật, kỹ thuật gì của óc đang lạm phát ngôn từ. Lòng có bị cắn đôi, đời có bị tan vỡ, tình có bị đứt đoạn, nghĩa là có một thảm sử gì làm trữ kim, làm bảo đảm, thì mới có thể phát ra các từ kia.

       Người Trung Quốc xưa đánh giá thơ nào thâm, nào chân, nào viễn, nào cao, nào tân, nhiều thứ lắm. Tân là mói. Nhưng sau tân, lại còn tân của tân nữa, đó là kỳ (lạ).

Tóc dài ba nghìn trượng

Vì sầu nên hóa dài

(Lý Bạch)

Bốn dây ứa máu tỳ bà

(Tương An)

Và đêm nay hồn anh về ngủ thắt lưng em

(Ca dao H’mông)

… Mái nhà dài như một tiếng chiêng…

… Tóc nàng dài đến nỗi thả ra thì xuống tận đất như một thác nước và che bóng râm như một cây K’nia (Dân ca Tây Nguyên)

       Hay khi Nguyễn Du tả ma:

       Dấu giày từng bước in rêu rành rành thì đều là kỳ đấy, đều là siêu đấy! Mà nào ta có mất thực đi đâu. Ta được nó một cách khác, ở một nhiệt độ, cường độ khác.

        Người châu Âu đẩy cái kỳ đến cùng, và kỳ cùng chủ thì từ yếu tố, nó thành chủ nghĩa. Chủ nghĩa siêu thực còn có tên là romantisme jusqu’au bout(chủ nghĩa lãng mạn đến cùng), rượu trên 100 độ. Thế thì chết. Chúng ta chống chủ nghĩa siêuthực, chống siêu thực ở dạng ấy, ở độ ấy, trương lên thành ngọn cờ tướng chỉ huy ấy. Aragon, Eluard, các vị tổ sư, tướng lĩnh từng phất ngọn cờ ấy, đã vứt nó để trả thành người lính, rồi chủ soái trên thi đàn hiện thực xã hội chủ nghĩa. Nhưng khi đã thành nguyên soái của thi đàn sau này, các ông vân sử dụng các yếu tố siêu thực, sử dụng siêu thực như yếu tố, cho cái hư ảo nó phục vụ hiện thực mình. Và sung mãn hơn lên vì vậy: Chân chân chân, thật thật thật nhưng lại còn đi với ảo ảo ảo nữa, Diệu ơi! Hàn Mặc Tử không phải là nhà thơ siêu thực.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: văn học cách mạng

Cái tài của Hàn Mặc Tử

        Hàn Mặc Tử có tài rất sớm. Tản Đà đã định khen thơ anh trên báo nhưng rồi tiên sinh qua đời. Làm một bài như bài Cửa sổ đêm khuya đọc lui, đọc ngược sáu cách, Tử rất giỏi:

Cái tài của Hàn Mặc Tử

Hoa cười nguyệt rọi cửa lồng gương

Lạ cảnh buồn thêm nợ vấn vương

Tha thướt liễu in hồ gợn bóng

Hững hờ mai thoáng gió đưa hương

Xa người nhớ cảnh tình lai láng

Vắng bạn ngâm thơ rượu bẽ bàng

Qua lại yến ngàn dâu ủ lít

Họa đàn sẵn có dế bên tường.

         Đọc xuôi, đọc ngược, bỏ hai chữ đầu đọc xuôi, bỏ hai chữ cuối đọc xuôi, bỏ hai chữ đầu đọc ngược, bỏ hai chữ cuối đọc ngược. Tử làm bài ấy lúc 17,18 tuổi, cũng là một cách xem thường tài vua Tự Đức “chả mấy giỏi” hơn mình. Sau này, có lúc Tử tự xem mình là “vua nhà Nguyễn bay trên mây” (Nguyên TrọngTrí là tên anh), cái mầm mống phạm thượng biết đâu không bắt đầu từ lúc làm thơ thuận-nghịch-độc ấy?

         Tử có rất sớm, trong khuôn khổ gò bó trói với bỏ rọ của thơ Đường luật mà có, cái khả năng thượng-thanh-khí-hóa (tên một tập thơ của Anh về sau), tâm tưởng tâm hồn hóa:

Tương tu mộng thấy năm canh mộng

Luyến ái trời vương bốn phía trời.

Cái khả năng thế-tục-hóa, da-thịt-hóa:

Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối

Gió thu lọt cửa cọ mài chăn.

Khả năng kỳ ảo, ma-quái-hóa cũng xuất hiện rồi:

Mở cứa nhìn trăng, trăng tái mặt

Khép phòng đốt nến, nến rơi châu.

         Đấy không phải là thủ thuật, kỹ thuật, những cách bên ngoài. Hoặc, nếu là thế thì cũng nhờ có một cái cốt thế nào đó, một cấu trúc tâm hồn thế nào đó ở bên trong. Hàn Mặc Tử – lúc ấy còn lấy tên Phong Trần, tên Lệ Thanh – đi về, qua lại giữa trời và đất, cảnh và người, thực và hư… rất thoải mái. Hoi văn lúc thì thu cả cảnh vật vào trong dúm chữ “Ngàn trùng bóng liễu trông xanh ngắt”, lúc thì văn chương chữ nghĩa tuột ra khỏi lòng như một tiếng kêu, một ngọn gió, một nhát dao: “Vội vàng cánh nhạn bay đi trớt”. Năng lực đàn hồi ấy cũng đã khá rõ ràng. Nhưng phải có cơn bão máu, trận hồng thủy tai ương, những động đất tâm hồn, những phún lửa tình yêu kinh khủng về sau, thì các khả năng kia mới lên cái thế bình phương, rồi lập phương như ta thấy.

           Từ năm 1936 đến 1940, nghĩa là sau khi rời Sài Gòn, ra tập GÁI QUÊ, về Quy Nhơn thọ bệnh, cho đến lúc vào Quy Hòa và mất, anh đã làm quá trình một thế kỷ về thơ (1935-1939 cũng là thời kỳ tôi học ở Quy Nhơn, giới thiệu dìu dắt tôi vào thơ là công anh lúc đó). Từ một nhà thơ biền ngẫu theo lối cổ phương Đông, anh đã hiện đại như những nhà thơ hiện đại nhất châu Âu. (Chỉ so với André Breton, ông tổ siêu thực không thôi cũng đủ thấy rõ). Hơn nữa, thiên hạ hiện đại bằng óc, bằng lòi, còn anh thì bằng máu:

Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy

Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra.


Vì văn anh mà tìm hiểu thân thế đời anh – Hàn Mạc Tử

        Tôi không trở lại đời riêng của Tử, ai đã yêu anh ngàn ngày, ai đã yêu anh dài hạn, và ai anh chỉ yêu cái bóng, ai anh yêu cái tên vì chưa thấy mặt bao giờ. Tôi nghĩ bây giờ sống dậy, gặp tất cả những người đẹp ấy, chắc có lẽ anh đều biết ơn, người này cho anh ân nghĩa, người kia cho anh vết thương, và chính vì từ vết thương mà con trai đáy bể làm ra viên ngọc. Tôi cũng không vào cuộc đời (gọi là cách mạng đi) của Tử. Cách mạng chứ sao! Chính Tử đã dùng hai chữ ấy ở GÁI QUÊ in năm 1936, “Ta, một nhà cách mạng bị tông giam” viết thư cho vợ:

Vì văn anh mà tìm hiểu thân thế đời anh – Hàn Mạc Tử

Thương em không dám nghĩ

Đương lúc nước nhànguy

Và:

Sông chung cùng kẻ nghịch

Hổ thẹn đến ngàn cây

        Cuộc đời cách mạng mà anh không tự biết là cách mạng ấy còn dài hơn cả thời gian Rimbaud, Verlaine, Baudelaire và cả Hugo tham gia Ba-lê Công xã Pháp. Tử, biệt hiệu Phong Trần, từ những năm 30-31 đã được cụ Phan Bội Châu ca ngợi, họa thơ cùng. Cụ viết đại ý: “Từ về nước đến nay, được xem nhiều thơ văn quốc âm song chưa được bài nào hay đến thế. Hồng nam nhạn bắc, ước ao có ngày gặp gỡ bắt tay cười to một tiếng cho thỏa hồn thơ đó”. Tử đã ra Huế thăm cụ, bị mật thám Pháp theo dõi, và do thế, bị gạch tên trong danh sách những người được đi Pháp học. Vào Sài Gòn làm báo, Tử dịch thơ tình của Marx, bênh vực Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan, về Quy Nhơn, khi chớm có bệnh hiểm nghèo, cuối 1936,Tử đã cộng tác cùng anh Nguyên Minh Vỹ, đảng viên cộng sản vừa ở tù ra, in giai phẩm Nắng Xuân trong ấy có bài Ồng nghị gật, Tử đánh vào viện dân biểu thời Pháp thuộc.

       Cho dù Hàn Mặc Tử có cuộc đòi bệnh tật, cuộc đời tình duyên, cuộc đời cách mạng ly kỳ, dữ dội gấp trăm lần, nhưng ba hòn núi cao ấy chụm lại không đẻ ra được một cái cây, một bóng mát, một con chuột nhắt thơ nào, thì việc gì ở đây ta phải dông dài. May thay Tử là một đỉnh cao, lòa chói trong văn học của thế kỷ, thậm chí qua các thế kỷ. Cho nên chúng ta cũng không mất công đâu khi vì văn anh mà tìm hiểu thân thế đời anh.
Từ khóa tìm kiếm nhiều: văn học lãng mạn

Hàn Mặc Tử, anh là ai?

         Bây giờ Hàn Mặc Tử nằm trên một điểm cao Gành Ráng đối diện với bể Đông, bể chói lòa như thơ anh và giông bão tựa dời anh. Nằm với trăng sao như anh từng mơ ước:

Hàn Mặc Tử, anh là ai?

        Với sao sương anh nằm chết như trăng Dưới kia là thành phố Quy Nhơn (những thành phố miền Trung thường có các nhà thơ ở trong và biển mé ngoài), thành phố của mẹ già nuôi anh “cơn lăm lụy vừa trải qua dưới thể’, của chị Lễ “Chị cũng trăng mà em cũng trăng”, của em Hành đem cơm cho anh trong suốt bốn năm trời anh phong hủi, và trước khi vào Quy Hòa để qua đời trong đó, nghe đâu, Tử đã sụp lạy cảm ơn em. Quy Nhơn, thành phố của bạn bè, của bóng dáng tên tuổi những người yêu, cũng là noi Tử phải trốn chui trốn nhủi để khỏi bị bắt đưa vào trại cùi trong núi. Nhưng Quy Nhơn đối với Nghĩa Bình, đối với cả nước là noi anh viết những trang thơ ngời chói, máu và nước mắt đời anh đã khúc xạ, đã biến hóa, đã hóa kiếp, thăng hoa, kết tụ thành trăng sao:

      Chỉ có trăng sao là bết diệt Cái gì khác nữa thảy đi qua.

        Thôi cả cuộc đời bi thảm của Tử kia, dù bi thảm đến đâu thì cũng đã qua rồi. Cái còn lại là những bài thơ đã từ thờianh đi thẳng vào “thời đại lớn” (chữ của Báctin), rồi hôm nay từ “thời đại lớn” ấy về với thời chúng ta.

        Một mai kia ở bên khe nước ngọc Với sao sương anh nằm chết như trăng Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc Đến hôn anh và rứa vết thương tâm.

        Bậy nào, sao lại không? Hôm nay có hàng vạn rồi hàng chục vạn tấm lòng đến cùng Tử đấy.

        Tôi không muốn nhắc lại cuộc đời của Tử, vì người ta đã viết thêm quá nhiều, và cũng viết bớt quá nhiều. Viết bậy càng lắm lắm. Ở thành phố Hồ Chí Minh, trên xe buýt hiện nay mỗi lần tôi đi xuống phố lại được nghe Hàn Mặc Tử, tình nhân và bạn bè anh đang ca vọng cổ, xuống xề trong các băng nhạc cũ lâm ly. Nói chi các quyển sách, vở kịch, tranh truyền hình tiểu thuyết nữa, khai thác ly kỳ, huyền thoại hóa đòi anh, đến nỗi một tờ báo Sài Gòn cũ cũng không chịu nổi phải kêu lên: “Hàn Mặc Tử đã chết rồi, xin chớ giết ông lần nữa”.

         Năm ngoái, một nhà báo ở Hà Nội vào đến tận Quy Nhơn làm hai trang dài về Quy Hòa còn viết bậy. Chả là trước khi đến thăm mộ Tử phải qua một cái dốc, mà không hiểu sao ai đó đã chả nghiên cứu gì về Tử hết, lại đặt tên là dốc Mộng cầm. Nhà báo trung ương liền tự hào về “nhân dân ta đã biết ơn một người chung thủy”. Theo nhà báo thì chị M.đã về Quy Nhơn nuôi Tử và “tuy yêu mà vẫn sợ nên nàng lấy một cái cặp dài, cặp một lon cơm mà đưa cho thi sĩ. Thi sĩ không tự tử là may lắm”. Câu thi sĩ không tự tử là may lắm không phải câu tôi bình luận nhà báo kia đâu. Chính là của nhà báo đè cao người yêu Tử đấy. Thì ra cái vị báo này không đọc sách nghe cải lương và xem báo nữa kia.


Giới thiệu về thơ mang hình bóng quê hương của Đoàn Giỏi

     Tôi rất tiếc cho anh Giỏi là anh để thất lạc tản mạn quá nhiều bài của mình. Có bài tôi nhắc rồi anh mới nhớ ra. Bài Đèn tôi bay về lục Hồ Chí Minh ở đâu? Sao không trích CÁ BỐNG MÚ? Có lần đi trao đổi văn hóa ở Ba Lan, các nhà văn Ba Lan nhờ tôi giới thiệu cho một tập sách viết cho thiếu nhi của Việt Nam để Ba Lan dịch. Tôi giới thiệu DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÝ của Tô Hoài!

Giới thiệu về thơ mang hình bóng quê hương của Đoàn Giỏi

     Hóa ra các bạn dịch lâu rồi! Các bạn đòi quyển khác. Nghĩ mãi, theo tôi chỉ có ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM của Đoàn Giỏi mới có thể điền vào chỗ ấy. Anh Nguyễn Thành Long trong đoàn, có thẩm quyền về văn xuôi hơn tôi, thấy thế là rất đúng. Lẽ ra nên trích vài chương ấy ở đây. Lẽ ra… nhưng thôi, đây đâu phải là TUYỂN của anh. Với lại, với những nhà văn lớp ngoài năm mươi, năm mươi lăm tuổi, như chúng tôi, in được gì dày mỏng, nhiều ít các anh in đi cho.

     Chớ nay mưa mai nắng thất thường (kể cả nay mưa mai nắng về thế sự nhân tình) thì lớp lớn tuổi dễ bị thiệt thời lắm. Huống nữa anh Giỏi có cái may được in ở quê nhà. Quê cần ở anh độ sâu của tình cảm, chứ không phải bề dày của tập sách. Tấm lòng anh một đời sâu nặng với quê hương, giờ quê hương trân trọng in lại anh như một nỗi tự hào là rất đúng! Vì lẽ ấy, tôi đã nhận lời viết những dòng này mà gọi là tựa, hay là bạt, hay là giới thiệu gì cũng được. Nó là tình cảm của tôi với mảnh đất miền Nam yêu quý, với bè bạn ở đất này.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: van hoc hien thuc

Những nét chân thực trong văn thơ Đoàn Giỏi

       Đọc các chi tiết bà má Năm Căn định gỏi mắm tép ra cho Cụ Hồ, gỏi cây đước miền Nam ra trồng giữa hồ Hoàn Kiếm. Ta hiểu giải phóng được miền Nam, chính là nhờ tấm lòng hướng về Trung ương, hướng về miền Bắc của nửa nước phía trong này. Những trang viết về Hà Nội, về Nguyễn Huy Tưởng và các nhà văn miền Bắc chăm lo cho các cây bút miền Nam làm ta hiểu tình cảm thống nhất Bắc Nam chính là dòng máu đỏ nhất, nồng nhất của dân tộc những ngày ấy, bây giờ và mãi mãi.

Những nét chân thực trong văn thơ Đoàn Giỏi

       Là một nhà văn miền Bắc, từng ở miền Bắc, tôi rất quý trọng Đoàn Giỏi, cũng như Anh Đức đã có nhiều trang như vậy về nơi từng chứng kiến một quãng đời văn học của mình. Đọc Đoàn Giỏi mà như đọc lại lịch sử biên niên những năm tháng ấy. Anh chỉ nói quá trình của anh mà thành ra ghi lại hành trình của dân tộc. Đâu phải chỉ vì chúng ta ghi tháng ngày dưới các bài ta viết.

        Những ai đã “bay theo đường dân tộc đang bay” đều nhận được phần thưởng một công hai việc này. Dân tộc ta đã về đến đích. Và cùng với các nhà văn Nam Bộ khác, anh cũng đã về đến đích, đứng trên mảnh đất quê hương, mang theo cả tác phẩm mình.

       Ngày nào tập kết ra Bắc, mái tóc các anh còn xanh, mà nay về đến quê nhà, mái đầu đã hoa râm, chớm bạc. Nhưng hề chi điều đó, anh Giỏi! Đêm qua tôi đọc lại lần nữa Chuyến xe thổ mộ cuối năm của anh, Tiếng gọi ngàn của anh, viết sau ngày giải phóng. So nó với những trang anh viết thuở ban đầu. Qua bao nhiêu năm vất vả, dễ mà chúng ta dẫm chân tại chỗ, cùn đi lắm chứ! Mừng cho anh, là trong các trang về sau, có sự ngân vang, âm vang của nội tâm nó làm cho tác phẩm động đến số phận, có bề sâu.

       Nếu văn anh những năm đầu làm tôi chú ý đến cái vạm vỡ, cuồn cuộn bên ngoài thì Tiếng gọi ngàn lại khiến tôi yêu vì cái bề sâu, bề sâu âm ỉ đó. Hình như anh có viết thư cho tôi lúc ấy, e ngại vì có xì xầm, lườm nguýt đây đó vì cái ngân vang, âm ỉ đó. Ối, cái quái gì mà người ta không xầm xì, lấm lét! Nhưng quả là văn học, và mỗi chúng ta phải bước vào một thời kỳ mới, ở đó sự xúc cảm của ta, tư duy ta, bộ não và cách dòm ngó của ta đừng né tránh các vấn đề, nhất là đừng né tránh nội tâm mình.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: văn học hiện thực

Chất liệu trong văn thơ Đoàn Giỏi

       Khá may cho Đoàn Giỏi là sau ba mươi năm, hai mươi năm, mười lăm năm, nhiều bài của anh đọc lại, vẫn “chịu” được. Kỹ thuật chăng? Tài năng chăng? Chứ về thông tin, về chất liệu, thì quả là ‘Vừa vậy vừa không phải vậy”. Năm Căn tôi đã đến rồi, cây đước tôi đã thấy rồi, bà má Năm Căn và hàng trăm bà má khác tôi đã gặp rồi, thế sao đọc các bài văn kia, tôi vẫn thấy xúc động. Có gì ở đằng sau các chất liệu kia, trên hay dưới, hay bàng bạc chung quanh các chất liệu kia, vừa là nó vừa không phải nó. Cái gì vậy? Tôi muốn nói đó là tâm hồn, đó là tấm lòng, đó là sự xúc động chân thành của tác giả.

Chất liệu trong văn thơ Đoàn Giỏi

      Cái đó giúp cho chất liệu đi qua mà không chìm, không tan rã trong thời gian. Ba mươi năm! Cố nhiên là người đọc ngây thơ, cả tin ngày ấy là tôi nay đã tinh khôn, láu lỉnh, láu cá nữa, không ai dễ lừa mình như trước. Nhưng khi một tác giả đã chân thành lúc viết, thì tất cả sự láu khôn của người đọc hóa thành không có chỗ đứng. Họ viết bằng trái tim trần và mình phải đọc bằng trái tim trần. Những độc giả trí tuệ ở các đô thị hiện đại ngày nay xúc động trước các câu dân ca trên núi cao thời xưa, là theo quy luật đó.

      Cũng có thể bây giờ Đoàn Giỏi lại thừa hưởng được những lợi thế khác. Giải phóng, thống nhất đất nước mười hai năm rồi, vân vân và vân vân, chúng ta quên đi nhiều thứ lắm. Quên kẻ thù từng đã là kẻ thù vẫn tàn ác như vậy. Quên nhân dân đã đóng góp ngay cả xương máu và sinh mệnh của mình. Quên tấm lòng một bà má miền Nam. Quên tình bạn và bữa cơm trên miền Bắc. Quên rằng mình có lúc đã cùng dân tộc đứng trên những đỉnh cao, hoặc khi dân tộc lên cao, là trong ấy có cả mình. Vì những cái quên chưa tổng kết đàng hoàng ấy, mà ta sai nhiều bài toán. Quên cái ngày qua, nên không đánh giá được sự việc hôm nay.

        Những lúc ấy đọc lại các bài văn cũ, như những tình bạn, tình yêu sắp tan vỡ, bỗng xáp mặt với các thư tín, hình ảnh, kỷ niệm cũ. Ô, có người hoi bối rối lúc thấy có kẻ chửi ta về vấn đề di tản, nhân quyền. Họ hãy đọc Vượt tuyến, Người tù chính trị năm tuổi…

Từ khóa tìm kiếm nhiều: văn học hiện đại Việt Nam

Nét chân thực của thơ văn luôn còn mãi

      Nhờ các nhà văn Nam Bộ, chúng ta đã khám phá, phát hiện ra miền Nam Tổ quốc ta, khám phá phát hiện ra các chất liệu đã làm nên cái miền là “máu cứa máu ta, thịt cứa thịt ta”. Đoàn Giỏi là một trong những người “thông tin” đầu tiên về Nam Bộ, lúc ấy. Đầu tiên, vì vài năm sau mới có Anh Đức (Bùi Đức Ái), Nguyễn Quang Sáng, rồi vài năm sau nữa mói có Đinh Quang Nhã, Võ Trần Nhã, Lê Văn Thảo, v.v…


Nét chân thực của thơ văn luôn còn mãi

      Lại cũng xin nhường vấn đề này cho các nhà nghiên cứu văn học am tường hơn, độ chính xác đáng tin cậy hơn. Với người độc giả là tôi, anh Giỏi có lợi thế này: tôi đọc anh lúc nằm dưỡng bệnh xa Tổ quốc mỗi dòng về Tổ quốc, về miền Nam đều chấn động nơi sâu thẳm thiêng liêng nhất của lòng mình. Vì những lẽ ấy, bây giờ khi đọc lại các bài văn anh viết lúc ấy, tôi e ngại cho anh. Đã không ít nhà, thơ cũng vậy mà văn hay lý luận cũng vậy, khi để tản mát các bài viết mỗi nơi một chỗ, tính từng món thì có vẻ quý, ấy thế nhưng khi gộp lại thành một khối thì lại không nặng trong lòng tay.

      Đó là quy luật trong không gian. Lại còn quy luật của thời gian khắt khe hơn. Là cũng nhan sắc ấy, mà ngày xưa thì mặt rỗ hoa mề, bây giờ sau bao nhiêu tháng ngày, hoa mè bay đi chỉ còn rỗ mặt. Năm ngoái tôi đọc lại Thạch Lam, nhà văn tôi yêu mến trong Tự Lực văn đoàn. Quả là các tác phẩm đọc qua cần đọc lại. Gần nửa, thậm chí gần hai phần ba những truyện của Thạch Lam, xưa tưởng “chắc” mà bây giờ hóa “óp”. Hình như cái gì, xưa hiện thực thì bây giờ vẫn thực, mà nhờ đấy vẫn văn, còn cái gì xưa làm văn, lãng mạn, màu mè thì bây giờ số phận lại bấp bênh đấy.


Đọc thêm tại: http://nhavanvacuocsong.blogspot.com/2015/07/chat-lieu-va-cam-xuc-lam-nen-tho-van.html



Từ khóa tìm kiếm nhiều: văn học hiện thực phê phán

Chất liệu và cảm xúc làm nên thơ văn

     Anh Xuân Diệu có một bài thơ về Bà má Năm Căn tặng anh Đoàn Giỏi. Chỉ vì chưa đến Năm Căn bao giờ, nhưng nhờ đọc bài Cây đước Cà Mau của anh Giỏi nói về bà má, anh Xuân Diệu liền viết được bài thơ xúc động kia. Những người làm thơ chúng tôi hay chịu ơn các nhà viết văn xuôi, làm báo, các nhạc sĩ, họa sĩ, các nhà khoa học, các triết gia… như vậy.

Chất liệu và cảm xúc làm nên thơ văn

     Họ gợi ý, gợi tứ cho mình. Kiểu mình xem người ta múa kiếm mà mình phóng tay viết chữ phượng múa rồng bay, mình xem thư pháp, kiếm pháp của thiên hạ, mà mình làm thơ khá. Luật mô phỏng. Luật domino. Ở đây còn hơn thế. Tôi chắc anh Giỏi đã cung cấp cho anh Xuân Diệu thẳng thừng trực tiếp hơn: chất liệu và xúc cảm. Tôi dám nói thế, vì hồi đó đọc văn anh Giỏi, tôi rất xúc động trước các chất liệu miền Nam của anh. Hồi đó, hồi đó… là hồi nào? Chao ôi, ba chục năm trời rồi, nhanh thật.

     Đất nước vừa làm xong Điện Biên, đuổi xong giặc Pháp, vừa lập lại hòa bình, và cò một nửa Tổ quốc là miền Bắc sống trong độc lập tự do.Các nhà văn miền Nam tập kết ra đó. Và sông núi, cây cỏ, chim muông, nhân vật, thời tiết, ngôn ngữ miền Nam theo họ mà vào kho tàng văn chương của cả nước. Bà má, cây đước, mảnh đất Năm Căn vào tâm hồn và vào thơ anh Xuân Diệu, vào trong tâm trí của mỗi người trong đó có tôi. Nhờ có anh Hoàng Tố Nguyên, tôi biết Gò Me, biết Đám lá tối trời, tôi biết An Phú Dông là nhờ Xuân Miễn, lại nhờ Nguyên Ngọc Tấn sau này là Nguyễn Thi mà… nhưng thôi các chuyện ấy dành cho các nhà làm văn học sử tính sau.

    Chỉ có một điều tôi xin nói tắt qua đây, nhờ có Phi Vân, mà tôi biết được mảng sống cũ của Nam Bộ rất là đặc sắc. Phi Vân – tác giả Trao thân con khi mốc, Đồng quê có in ở TỔNG TẬP VĂN HỌC VIỆT NAM – thế nhưng chả được mấy nhà phê bình nhắc đến. Anh Đức mách cho, tôi tìm đọc. Theo tôi đó là một- Nam Cao, một Ngô Tất Tố miền Nam, có những chất liệu rất miền Nam, bút pháp rất miền Nam, tài liệu và đề tài đều lấy thẳng từ đất đai, truyền thống ở đây ra, chứ không phải từ văn hóa Tây – Tàu nào, thích lắm.

    Chất liệu là một điều rất quan trọng. Lần ông bà Marquez đến thành phố Hồ Chí Minh, tôi có ca ngọi bút pháp TRĂM NĂM CÔ ĐƠN của ông. Ông khiêm tốn “Nhờ chất liệu châu Mỹ la-tinh đấy. Chất liệu này làm giàu không những cho các nhà viết tiểu thuyết như tôi mà cho các họa sĩ, các nhà thơ nữa”, cố nhiên là “như vậy mà cũng không là như vậy”. Nhưng cứ nhìn qua họa của Siquéros, thơ của Pablo Néruda, của Octaye Paz, nói chi đến tiểu thuyết của Carpentier, của Asturias thì Marquez không nói sai đâu.


Cái tình trong thơ của Hoàng Tố Nguyên

   Thơ người có tài tả cảnh, có con mắt tỉnh táo, sắc sảo, chi li, dễ khô khan thiếu chất trữ tình. Và người chìm đắm trong tình cảm, con mắt khói sương lại hay tơ lơ mơ, chỉ ghi được hồn chứ không ghi được cái vật chất, cái cụ thể rất quý của sự vật. Ấy thế nhưng đọc thơ Nguyên ngay những câu tả cảnh, lòng ta cứ bâng khuâng. Như vừa mất một cái gì và được lại cái gì.

Cái tình trong thơ của Hoàng Tố Nguyên

   Văn Phú kia rồi! Đỏ quýt cam Trăng lặn đã khuya dậy lửa sàn Yên Bái tan sương bừng rạng nắng Đợi thứ vào lưới lửa nhân dân.

   Rạng nắng. Tan sương. Nhân dân chờ hạ máy bay thù. Ồ, cái cảnh quen thuộc đến như cơm bữa hằng ngày ấy, ta sắp quên, trí nhớ ta sắp đánh mất rồi chăng? Ấy thế mà nhờ có các câu thơ Nguyên, ta nhớ lại.

    Chính gọi thơ anh là thơ tâm tình vì lẽ đó. Của trái tim trước khi là của mắt nhìn. Hoàng Tố Nguyên cũng khá hiện đại, vì trái tim ấy, con mắt ấy, ngay giữa những ngày tháng lịch sử vĩ đại huy hoàng kia, anh không chỉ biết có tầm vóc của các sự kiện phi thường, anh chú mục đến cả các việc bình thường, hằng ngày, xoàng xĩnh nữa, nhưng nó là cuộc sống:

   Một chúm môi non trên đường sơ tán Đôi tết bỏ quên sưa nồng còn thoảng Buổi chiếu phim vé bạn đa mời Tập thơ dày mới giở đến trang hai

    Tôi có thể trích dẫn Nguyên nhiều câu mới nhìn qua như cảnh, bỗng chốc nhìn lại nó đã là tình cảm thấy trong mình:

Gió đêm ấy như đằm nước biển Mặn mùi vôi vừa thoảng trong khuya…

   Đêm chợt rùng mình báo rét nàng Bân Gió đông bắc. Tiếng rền xe xích Xin chào nhé, sông Cà Lồ được mùa cá bột Cái nắng trung châu thoảng mùi mít mật.

Hoặc những câu khác, anh nói nữa, nói trắng tình cảm của mình:

   Xin cảm ơn ai, thương kẻ vượt Trường Sơn Bẻ nắm cơm thấy hương đồng quê mẹ Chiếc cúc chưa đơm trên áo chồng tập kết Em băn khoăn bứt rút chín năm ròng

Con gió nào gọi em đêm nay ngoài cửa sổ Để, nơi đây anh nghe lá rối trên cành.

   Tôi muốn nói đến một ưu điểm khác của thơ Nguyên, thơ Nguyên là thơ tâm tình, nhưng tâm tình của một trái tim có suy nghĩ. Những năm gần đây, hiện nay, thơ trí tuệ, hãy tạm gọi cái tên không mấy thơ và không mấy trí tuệ ấy đi, gần như là thời thượng… Thậm chí Trăm năm trong cõi người ta của Nguyễn Du, người ta có thể viết lại:

Cõi con người

Ồi thế kỷ thời gian

   Trong quãng không gian đó thì hồi Nguyên còn sống, thơ xúc cảm chỉ thích xúc cảm không thôi. Trái tim độc tôn, trái tim vạn tuế mà. Nhưng Nguyên đã biết kìm trái tim lại cho nó nhìn ra nét, ra hình, như ta thấy ở trên.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: văn học hiện thực Việt Nam

Sự khác biệt có tài hay không có tài

       Đón đoàn văn nghệ sĩ thăm tuyến lửa, các đồng chí lãnh đạo tỉnh Quảng Bình hồi ấy phát biểu: “Nhiều tỉnh lập chiến công còn hơn tỉnh chúng tôi, nhưng nhờ bài hát Quảng Bình quê ta ơi mà tỉnh chúng tôi được nổi tiếng…”. Cái ma mị của nghệ thuật, của thi ca là như vậy. Nhiều huyện đã không có tên vì thiếu một cô Hồ Xuân Hương qua đấy khóc “Trăm năm ông phú Vĩnh Tường ơi!” Nhiều đèo cao mỹ lệ, hùng tráng nhưng ít ai tò mò đến ngắm trời vì thiếu một bà Huyện Thanh Quan bước tới như bà đã “Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà”. Chúng ta yêu Nam Bộ, Gò Công, Trương Định… nhưng phải có những câu thơ sau này của Hoàng Tố Nguyên thì tình yêu ấy mới thành xương thịt cụ thể:

Sự khác biệt có tài hay không có tài

Gò Công oanh liệt một thời Ông Trương… đám lá tối trời… đánh Tây Ruộng Gò Công cò bay thẳng cánh Ao Gò Me nước gánh không vơi.

Nhưng đâu có phải là cứ đơn giản gọi một tên đất tên người nào thì tự nhiên nó vào trí nhớ thiên hạ… Sự phân biệt có tài hay không có tài, có tình hay không có tình là ở đây đấy.

Sở dĩ ta yêu chợ Gò, là vì cầm cái rễ ấy lên là bao nhiêu màu mỡ, ảnh hình, cảm xúc bao quanh nó:

Quê tôi đó mặt trêng ra bể

Đốm hải đăng tắt – lóe đêm đêm

Con đê cát đỏ cỏ viền

Leng keng nhạc ngựa ngược lên chợ Gò.

Ta yêu chiến khu Đ chỉ vì rút dây động rừng, chỉ ba chữ ấy, dộng đến đã làm sống dậy, có hồn, bao nhiêu cái khác:

Chiến khu Đ mỗi độ mai vàng

Hương hoa dại quyện theo mùi thuốc súng

Khoanh bánh tét không nhăn nóng bỏng

Đêm ba mươi bên bếp lứa đồng bào.

Như trong trò domino, con cờ này đã xô con cờ khác, đã nói chiến khu Đ, thế là phải nói đến rừng UMinh. Và:

Nước UMinh trôi xác lá đỏ ngầu

Sân trải rơm khô một chiều năm hết

Tay mẹ nuôi mân mê vai áo rách

Bữa cơm mì chan nước mắt rưng rưng.

Trên kia, tôi có nói Hoàng Tố Nguyên yêu và làm hội họa, về Thái Bình anh phụ trách cả khối nghệ thuật vì thế. Cái nhìn hội họa thấy rõ ở thơ Nguyên. Từ cái nhìn tối sáng, màu sắc, hải đăng tắt lóe, xác lá đò ngầu, con đê cát đỏ, mỗi độ mai vàng, đến cái nhìn đường nét chi tiết: khoanh bánh không nhăn, bữa cơm mì chan nước mắt, con đê cỏ viền, tay mẹ mân mê vai áo rách…


Đọc thêm tại: http://nhavanvacuocsong.blogspot.com/2015/07/oi-net-ve-cuoc-oi-cua-nguyen.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: văn học cách mạng

Đôi nét về cuộc đời của Nguyên

Cuộc đời Nguyên bình thường như cuộc đời của phần đông chúng mình. Anh sinh ra ở Gò Me – Gò Công (Tiền Giang ngày nay). Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, anh tham gia công tác bí mật tại nội thành Sài Gòn trong đơn vị mang bí hiệu bộ đội số 6. Sau anh công tác tại Ty Thông tin Thủ Dầu Một, với nhiệm vụ họa sĩ vẽ tranh tuyên truyền cổ động, đồng thời làm thơ. Rồi sau này ta sẽ thấy trong thơ Nguyên có chất họa, rõ đường nét, long lanh sắc màu.

Đôi nét về cuộc đời của Nguyên

Lần lượt anh giữ các chức vụ ủy viên thường trực Ban chấp hành Hội Văn nghệ tỉnh Thủ Biên (Thủ Dầu Một – Biên Hòa), biên tập viên báo Cứu Quốc Nam Bộ, báo Vì Chúa – Vì Tổ Quốc của Tổ chức Công giáo kháng chiến Nam Bộ. Tháng 11-1954, anh tập kết ra Bắc, và lần lượt công tác ở báo Văn Nghệ Trung ương, ở Ban đại diện Văn nghệ Nam Bộ mà anh là ủy viên, ở báo Độc Lập… Trong hai năm 1974-1975 cuối cuộc đòi mình, anh về công tác tại Hội Văn nghệ Thái Bình, phụ trách bồi dưỡng đào tạo những cây bút trẻ và bộ phận nghệ thuật cơ quan Hội.

Anh đã mất tại Thái Bình gần những ngày đại thắng. Bài thơ Con sẽ về thăm Bác giữa thành phố Hồ Chí Minh anh viết tháng 12-1969; bài thơ cuối cùng của anh, cũng là viết về Bác, ghi ngày 3-2-1975, trước ngày chúng ta về thành phố đó có mấy chục ngày. Phải nói Hội Văn nghệ Thái Bình và nhà thơ Bút Ngữ ở đấy đã tận tình chăm lo cho Nguyên từ khi ốm đến khi chôn cất, cũng  như đã sưu tầm tác phẩm của Nguyên để giúp cho tôi giới thiệu Nguyên trong tập TỪ NHỚ ĐẾN THƯƠNG, in ở Hà Nội năm 1977, và cũng nhờ đó mói có phần chính của TUYẾN TẬP hôm nay.

Trong tập GỬI CHIẾN TRƯỜNG CHỐNG MỸ của Nguyên, có bài Chuyện của anh tả một đồng chí thương binh Nam Bộ:

Một bàn tay anh đạn thứ cướp mất Trận công đồn Bến Cát Anh tập kết ra đây

Và:

Ba mươi sáu tuổi đầu anh mới có mụn con Người vợ miền Bắc của anh còn trẻ lắm

Anh Hoàng Tố Nguyên cũng có người vợ miền Bắc như vậy. Bài thơ Tạm biệt Hương Canh là để tặng chị Nguyên. Nhớ ngày ở miền Bắc, mỗi khi qua quãng đường ấy, anh em lại trìu mến bảo: “Quê vợ Nguyên đây” và bỗng tôi nhớ đến bài 10 năm trước Nguyên viết Gởi Hương và con, có phải giữa Hương này và Hương Canh kia có những liên hệ gì chỉ riêng Nguyên biết. Đấy, tất cả cuộc đời của Nguyên chỉ có thế và tôi nhắc đến đời, cũng chỉ để chúng ta hiểu thơ mà thôi.

Và có nhắc đến các chức vụ, các địa danh trên để cho những bạn nào từng biết Nguyên, giữ được thơ, tác phẩm gì của Nguyên thì góp thêm cho khi bổ sung, tái bản tuyển thơ này. Tôi tin rằng ngoài 7 tập thơ Nguyên để lại cho đời (mà hiện chúng tôi chưa có đủ), chắc Nguyên còn nhiều bài khác nữa.


Đọc thêm tại: http://nhavanvacuocsong.blogspot.com/2015/07/tai-nang-cua-nguyen-con-song-mai.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: van hoc lang man 

Tài năng của Nguyên còn sống mãi

       Thường biên tập, tuyển chọn các tác phẩm đã qua cho anh em, tôi hay lo ngại. Những cái viết được hoan nghênh trong một thời kỳ, đến thời kỳ khác có còn được tán thưởng như thế không? Nhiều vấn đề khá thú vị làm chúng ta suy nghĩ. Có những bài thơ viết cho chống lụt, mà sau này không những khi chống lụt mà đến chống hạn hay chống… cô đơn vẫn cứ được hoan nghênh. Trái lại, có những bài thơ mà khi vấn đề hết thì tác giả cũng bị quên đi, thậm chí vấn đề có sống lại, sôi sục nóng bỏng lên, thì tác giả cũng không được ai nhắc đến. Sao vậy? Ở đây là lúc ta phân biệt ai là người có tâm huyết, có tài năng và ai là người chỉ có vấn đề. Thơ hiện nay rất khác xa thơ 15 năm, càng rất khác thơ 30 năm trước, cách đọc thơ cũng khác, mà cuộc sống tâm lý của người đọc, người làm cũng khác hơn.

Tài năng của Nguyên còn sống mãi

Nhưng đọc lại Nguyên, chúng ta vẫn xúc động, mến yêu Nguyên đã vượt qua những cái khác đó. Chính là nhờ tài năng và tâm huyết, thậm chí giữa người có tâm huyết, lại phải làm một sự chọn lọc nữa, qua thềm một cửa chật nữa, anh là người có tài. Phải nói chữ ấy. Bởi có một lúc giản đơn, chúng ta ngại ngùng khi nói chữ ấy, nghĩ rằng trong văn học chỉ có gạo, nước và lửa, chỉ cần có hiện thực và lập trường là đủ có bữa ăn, đủ có tác phẩm rồi. Từ đó đi đến chỗ đào tạo những người bất lực, đề cao những người ít tài, ngắm tác phẩm, tác giả thì ít, mà chỉ đăm đăm cái vật anh ấy nhìn, cái chỗ anh ấy đứng. Trong các nhà thơ Nam Bộ tập kết ra Bắc hồi ấy, phải nói, Nguyên là một trong mấy người có tài hơn cả.

Trong thế hệ gọi là thế hệ các nhà thơ hồi đánh Pháp gồm có những Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Chính Hữu, Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn, Trần Hữu Thung, Xuân Hoàng, Phạm Hổ, Xuân Miễn, Bàng Sĩ Nguyên, Lưu Quang Thuận… miễn cho tôi kể hết, thì Hoàng Tố Nguyên là một trong dăm bảy anh có hồn thơ rõ nhất. Tha thứ cho tôi cứ hay phân loại xếp hạng liều như vậy. Nhưng mà đừng có chung chung, đừng có ù lòa. Phải trả cho cái gì họ có! Nào Nguyên có gì? Anh không có chức vụ gì quan trọng, học vị hay tài sản gì lớn lao, hạnh phúc riêng cũng hạnh phúc mà cũng đau khổ, anh chỉ có cặp nạng, với nó, anh đã đi khắp các nơi trên miền Bắc, đến các chiến hào và về quê vợ thương yêu, có một tiếng cười giòn giã, bây giờ đây tôi còn như nghe tiếng Nguyên cười, và

Nguyên có tài hãy gọi chữ ấy, trả cho Nguyên cái giá ấy, đồng tiền vàng ấy.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: văn học lãng mạn

Cái nhìn, cách viết tinh tế của Tố Hữu

     Nhờ ánh sáng mặt trời chói qua tim, hay tim hóa mặt trời ấy, nhà thơ rất nhạc ấy lại có con mắt họa sĩ, con mắt Voyant ở đâu cũng thấy sắc màu, hóa thân cho cái mình nhìn:

Vườn hồng ngớt gió mưa qua
Cờ hoa đỏ nắng, mái nhà vàng sao…
… Hố bom đỏ mắt, trắng đèo bông lau
Cây khô chết chẳng nghiêng đầu
Nghìn tay than cháy rạch màu trời xanh…
… Đầu non cỏ lục mặt trời vừa lên
Da trời xanh ngắt thần tiên
Đỏ au đường lớn mang tên Bác Hồ
Trường Sơn mây núi lô xô
Quân đi sóng lượn nhấp nhô bụi hồng

Cái nhìn, cách viết tinh tế của Tố Hữu

      Có lần tôi hỏi Tố Hữu là anh có cố ý cho câu Mường Thanh Hồng Cúm, Him Lam có màu thanh và hồng không? Anh ngớ ra! Cố nhiên là Tố Hữu không cố ý, nếu cố ý thì còn gì là Tố Hữu. Có thể ‘Tố Hữu ý thức” chỉ nghĩ ra màu trắng, màu vàng trong:
                                      Hoa mơ lại trắng, đồi cam lại vàng.
      Nhưng một Tố Hữu khác, tiềm thức đã mù mờ, thay anh chọn các từ có màu thanh, hồng, lam đó. Trong thơ ăn nhau là ai có con người thứ hai, cái hậu phương đầy tiềm lực dự trữ bí ẩn này. Để kiểm tra lại bài toán, ta xem Tố Hữu yêu ngày như thế, có tả đêm không? Có. Nhưng cũng như không, bao giờ đêm của anh cũng kèm theo một cái gì phủ định nó:

Những đêm hè
Tiếng chổi tre
Xao xác

Thế là đêm hóa ngày rồi. Đêm anh thường xuyên có lửa:

êm nay trên sàn
Bập bùng ngọn lửa
Hoặc:
Má già trong túp lều tranh
Ngồi bên bếp lứa đun cành củi khô

Cho đến “Bà bú không ngủ, bà nằm” thì bà cũng có “ổ chiếu lửa rơm” và “con gà gáy sáng đầu thôn” chờ đấy.
Và khi không đèn, không lửa gì:

Xe đi trong đêm tối
Có mắt ta làm đèn

     Ở hai đoạn thơ đầu ta trích để mổ xẻ, đều thấy Tố Hữu nhắc đến chim (rộn tiếng chim, con chim nào nhảy nhót trong tóc). Chùn của Tố Hữu có nhiều, ríu rít, rúc rích, hót, gáy, nào là sẻ, bồ câu, tu hú, gà, chiền chiên, sếu, giang, cà lơi, cò, nhất là cò, những bóng cò bay sớm sớm chiều chiều, nhưng toàn là chim của ánh sáng mặt trời. Cú, vạc ban đêm hay con quạ có màu đêm vắng lắm. Tố Hữu không quan tâm lắm về phía bóng tối, siêu hình mà anh buộc lòng anh với mọi người chớ không phải với “phía bên kia” của họ. Làm cách mạng, giáp trận, đương đầu cùng cái chết, có lần anh đã tả:

Liệm thân tàn bằng một mảnh chiếu con
Rồi chôn xương rục thối dưới chân cồn
Hay phơi xác cho một bầy quạ rỉa

Con quạ này bay qua không trở lại. vấn đề siêu hình tì trên cồn, anh lôi nó xuống ruộng cày. Và anh không thối rữa chết rữa mà ngủ ngon lành:

Vui vẻ chết như cày xong thửa ruộn
Lòng khỏe nhẹ anh dân quê sung sướng
Ngả mình trên liếp cỏ ngủ ngon lành

Lượm đã chết kiểu ấy:

Cháu nằm trên lúa
Tay nắm chặt bông
Lúa thơm mùi sữa
Hồn bay giữa đồng

    Trỗi cũng hy sinh như vậy. Pháp trường này không ó lúa nhưng có cỏ, có rau của cuộc đời vĩnh viễn tươi xanh:
             Cỏ trong vườn mát dưới chăn anh Đời vẫn tươi màu lá rau xanh
Bà Má Hậu Giang thi máu vọt lên trời giữa “nước non muôn quý ngàn yêu”.
Với Bác, Tố Hữu càng không nghĩ đến cái chết. Bác

“Vào cuộc trường sinh, nhẹ cánh bay
Thôi để Người yên giấc ngủ say”
Chúng ta cũng thấy như thế.